LoveStory
Diễn đàn lớp QTKDK09-TNU
 :: 

Thảo luận chung

 :: 

Góc học tập



Share | 

 

 Agribank - Những cột mốc và chặng đường lịch sử

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
30/9/2011, 5:18 pm


Sơ nhập

meo_vip1991

Sơ nhập

Tên thật : chả lẽ lại hem bít
Giới tính : Nam
Tuổi : 25
Số bài gửi : 7
Đến từ : daklak

Bài gửiTiêu đề: Agribank - Những cột mốc và chặng đường lịch sử

 
Năm 1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được
thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh,
trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Ngân hàng Phát
triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân hàng Nhà nước:
tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, Phòng Tín dụng Nông
nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành
phố. Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp TW được hình thành trên cơ sở tiếp
nhận Vụ Tín dụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ
Tín dụng Thương nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, Vụ Kế toán và một
số đơn vị.

Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT
thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển
Nông nghiệp Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng thương mại đa
năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một
pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
hoạt động của mình trước pháp luật.

Ngày 01/03/1991,
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 18/NH-QĐ thành lập Văn
phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và ngày
24/6/1994, Thống đốc có văn bản số 439/CV-TCCB chấp thuận cho Ngân hàng
nông nghiệp được thành lập văn phòng miền Trung tại Thành phố Quy Nhơn -
tỉnh Bình Dịnh.

Ngày 22/12/1992, Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 603/NH-QĐ về việc thành lập chi
nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngân hàng Nông
nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại Hà Nội và Sở giao dịch
II tại Văn phòng đại diện khu vực miền Nam và Sở giao dịch 3 tại Văn
phòng miền Trung) và 43 chi nhánh ngân hàng nông nghiệp tỉnh, thành phố.
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi nhánh.

Năm 1993,
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ban hành quy chế thi đua khen thưởng tạo
ra những chuẩn mực cho các cá nhân và tập thể phấn đấu trên mọi cương
vị và nhiệm vụ công tác. Tổ chức được hội nghị tổng kết toàn quốc có các
giám độc chi nhánh huyện suất sắc nhất của tỉnh thành phố.

Ngày 30/7/1994
tại Quyết định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam,
trên cơ sở đó, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cụ thể hóa
bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông nghiệp ngày 16/08/1994 xác định:
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và Cấp trực tiếp
kinh doanh. Đây thực sự là bước ngoặt về tổ chức bộ máy của Ngân hàng
nông nghiệp Việt Nam và cũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam sau này.

Ngày 7/3/1994
theo Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ , Ngân hàng Nông
Nghiệp Việt Nam hoạt động heo mô hình Tổng công ty Nhà nước với cơ cấu
tổ chức bao gồm Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, bọ máy giúp việc bao
gòm bộ máy kiểm soát nội bộ, các đơn vị thành viên bao gồm các đơn vị
hạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập, đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ
chức năng quản lý và chức năng điều hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị
không kiêm Tổng Giám đốc.

Trên cơ sở những kết quả
tốt đẹp của Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo, Ngân hàng Nông nghiệp tiếp tục
đề xuất kiến nghị lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, được Chính phủ,
Ngân hàng Nhà nước ủng hộ, dư luận rất hoan nghênh. Ngày 31/08/1995, Thủ
tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/TTg thành lập Ngân hàng phục
vụ người nghèo.

Ngân hàng phục vụ người nghèo là
một tổ chức tín dụng của Nhà nước hoạt động trong phạm vi cả nước, có
tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có tài sản, bảng cân đối, có con dấu,
trụ sở chính đặt tại Thành phố Hà Nội. Vốn hoạt động ban đầu là 400 tỷ
đồng do Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam góp 200 tỷ đồng, Ngân hàng Ngoại
thương 100 tỷ đồng và Ngân hàng Nhà nước 100 tỷ đồng. Hoạt động của Ngân
hàng Phục vụ người nghèo vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, không vì mục
đích lợi nhuận, thực hiện bảo toàn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắp
chi phí. Ngân hàng Phục vụ Người nghèo - thực chất là bộ phận tác nghiệp
của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam tồn tại và phát triển mạnh. Tới
tháng 09/2002, dư nợ đã lên tới 6.694 tỷ, có uy tín cả trong và ngoài
nước, được các Tổ chức quốc tế đánh giá cao và đặc biệt được mọi tầng
lớn nhân dân ửng hộ, quý trọng. Chính vì những kết quả như vậy, ngày
04/10/2002, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số
131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội trên cơ sở Ngân
hàng Phục vụ Người nghèo - Từ 01/01/2003 Ngân hàng Phục vụ Người nghèo
đã chuyển thành NH Chính sách xã hội. Ngân hàng Nông nghiệp chính là
người đề xuất thành lập, thực hiện và bảo trợ Ngân hàng phục vụ người
nghèo tiền thân của Ngân hàng chính sách xã hội - Đây là một niềm tự hào
to lớn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong
sự nghiệp phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo.

Ngày 15/11/1996,
được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam
thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam.

Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo mô hình Tổng
công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật
các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam. Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một ngân hàng thương
mại, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được xác định thêm
nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở
rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

Trong năm 1998,
NHNo đã tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nợ tồn đọng cũ và
quản lý chặt chẽ hơn công tác thẩm định, xét duyệt các khoản cho vay
mới, tiến hành các biện pháp phù hợp để giảm nợ thấp quá hạn.

Năm 1999,
chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và tập trung đầu tư phát triển
nông nghiệp nong thôn. Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín
dụng có hiệu lực thi hành, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động ngân
hàng. Đẩy mạnh huy động vốn trong và ngoài nước chú trọng tiếp nhận thực
hiện tốt các dự an nước ngoài uỷ thác, cho vay các chương tình dự án
lớn có hiệu quả đồng thời mở rộng cho vay hộ sản xuất hợp tac sản xuất
được coi là những biện pháp chú trọng của Ngân hàng Nông nghiêp kế hoạch
tăng trưởng.

Tháng 2 năm 1999 Chủ tích
Quản trị ban hành Quyết định số 234/HĐQT-08 về quy định quản lý điều
hành hoạt động kinh doanh ngoại hối trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam. Tập trung thanh toán quốc tế về Sở
Giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt nam ( Sở
giao dịch được thành lập thay thế Sở giao dịch kinh doanh hối đoái, Sở
giao dịch là đấu mối vốn cả nội và ngoại tệ của toàn hệ thống) Sở Giao
dịch II không làm đầu mối thanh toán quốc tế. Tài khoản NOSTRO tập trung
về Sở giao dịch. Tất cả các chi nhánh đều nối mạng SWIFT trực tiếp với
Sở giao dịch. Các chi nhánh tỉnh thành phố đều được thực hiện các nghiệp
vụ kinh doanh đối ngoại.Năm 2000 cùng với việc mở rộng kinh doanh trên
thị trường trong nước, NHNo tích cực mở rộng quan hệ quốc tế và kinh
doanh đối ngoại, nhân được sự tài trợ của các tố chức tài chính tín dụng
quốc tế như WB, ADB, IFAD, ngân hàng tái thiết Đức… đổi mới công nghệ,
đào tạo nhân viên., Tiếp nhân và triển khai có hiêu quả có hiệu quả 50
Dự án nước ngoài với tổng số vốn trên 1300 triệu USD chủ yếu đầu tưu
vào khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Ngoài hệ thống thanh toán
quốc tế qua mang SWIFT, NHNo đã thiết lập được hệ thống thanh toán
chuyển tiền điện tử, máy rút tiền tự động ATM trong toàn hệ thống.

Tiến
hành đổi mới toàn diện mô hình tổ chức, màng lưới kinh doanh theo hương
tinh giảm trung gian, tăng năng lực cho các đơn vị trực tiếp kinh
doanh., Đổi mới công tác quản trị điều hành, quy trình nghiệp vụ theo
hướng đơn giản hoá các thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng.,
Tập trung mọi nguồn lực đào tạo cán bộ nhân viên theo hướng chuyên mon
hoá., tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, hiện đại hoá công nghệ.

Năm 2001
là năm đầu tiên NHNo triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu với các nội
dung chính sách là cơ cấu lại nợ, lành mạnh hoá tài chính, nâng cao chất
lượng tài sản có, chuyển đổi hệ thống kế toán hiện hành theo chuẩn mực
quốc tế đôi mới sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo mô hình NHTM hiện đại
tăng cường đào tạo và đào tạo lại cán bộ tập trung đổi mới công nghệ
ngân hàng, xây dựng hệ thống thông tin quản lý hiện đại.

Bên
cạnh mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước, năm 2002, NHNo tiếp
tục tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế. Đến cuối năm 2002 NHNo là thành
viên của APRACA, CICA và ABA, trong đó Tổng Giám đốc NHNo là thành viên
chính thức Ban điều hành của APRACA và CICA

Năm 2003
NHNo và PTNTVN đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án Tái cơ cấu nhằm đưa
hoạt động của NHNo&PTNT VN phát triển với quy mô lớn chất lượng
hiệu quả cao Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi
mới, đóng góp tích cực và rất có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh
tế xã hội của đất nước, sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp - nông thôn, Chủ tịch nước CHXHCNVN đã ký quyết định số
226/2003/QD/CTN ngày 07/05/2003 phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động
thời kỳ đổi mới cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam.

Tính đến năm 2004, sau 4 năm triển
khai thực hiện Đề án tái cơ câu giai đoạn 2001-2010, Ngân hàng Nông
nghiệp đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tình hình tài chính đã
được lành mạnh hơn qua việc cơ cấu lại nợ và tăng vốn điều lệ, xử lý
trên 90% nợ tồn động. Mô hình tổ chức từng bước được hoàn thiện nhằm
tăng cường năng lực quản trị điều hành. Bộ máy lãnh đạo từ trung ương
đến chi nhánh được củng cố, hoàn thiện, quyền tự chủ trong kinh doanh
được mở rộng hơn.

Đến cuối năm 2005, vốn
tự có của NHNo&PTNT VN đạt 7.702tỷ VND, tổng tài sản có trên 190
ngàn tỷ , hơn 2000 chi nhánh trên toàn quốc và 29.492 cán bộ nhân viên
(chiếm 40% tổng số CBCNV toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam), ứng dụng
công nghệ hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hoàn
hảo…...Đến nay, tổng số Dự án nước ngoài mà NHNo&PTNT VN tiếp nhận
và triển khai là 68 dự án với tổng số vốn 2.486 triệu USD, trong đó giải
ngân qua NHNo là 1,5 tỷ USD. Hiện nay NHNo&PTNT VN đã có quan hệ
đại lý với 932 ngân hàng đại lý tại 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, là
thành viên của nhiều tổ chức, hiệp hội tín dụng có uy tín lớn.

Từ năm 2006
bằng những giải pháp mang tính đột phá và cách làm mói NHNo&PTNT
VN (Agribank) thực sự khởi sắc. Đến cuối năm 2007, tổng tài sản đạt
325.802 tỷ đồng tương đương với 20 tỷ USD gấp gần 220 lần so với ngày
đầu thành lập. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 242.102 tỷ đồng trong
đó cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm trên 70% với trên 10 triệu hộ gia
đình, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 36% với gần 3 vạn
doanh nghiệp dư nợ. Tổng nguồn vốn 295.048 tỷ đồng và gần như hoàn toàn
là vốn huy động.

Năm 2008 là năm ghi dấu
chặng đường 20 năm xây dựng và trưởng thành của Agribank và cũng là năm
có tính quyết định trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ
trương của Đảng, Chính phủ. Trong chiến lược phát triển của mình,
Agribank sẽ trở thành một Tập đoàn tài chính đa nghành, đa sở hữu, hoạt
động đa lĩnh vực. Theo đó, toàn hệ thống xác định những mục tiêu lớn
phải ưu tiên, đó là: Tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, chủ lực trên thị
trường tài chính nông thôn, luôn là người bạn đông hành thủy chung tin
cậy cuả 10 triệu hộ gia đình; đảy mạnh tái cơ cấu ngân hàng, giải quyết
triệt để vấn đề nợ xấu, đạt hệ số an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế,
phát triển hệ thống công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm , nâng cao
chất lượng dịch vụ, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo các
lợi ích của người lao động và phát triển thương hiệu- văn hóa Agribank.

Trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại và nhận thức rõ vai trò của
các sản phẩm dịch vụ ngoài tín dụng truyền thống, năm 2009 Agribank chú
trọng giới thiệu và phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tiện ích
tiên tiến, điển hình là các dịch vụ Mobile Banking như: SMS Banking,
VnTopup, ATransfer, Apaybill, VnMart; kết nối thanh toán với Kho
bạc, Hải quan trong việc phối hợp thu ngân sách; phát hành được trên 4
triệu thẻ các loại.

2009 cũng là năm Agribank ưu tiên và chú trọng công tác đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của cạnh tranh và hội nhập. Triển
khai thành công mô hình đào tạo trực tuyến; Tuyển thêm trên 2000 cán bộ
trẻ, được đào tạo căn bản, có ngoại ngữ và tin học nhằm chuẩn bị nguồn
lực cho các năm tiếp theo.

Đến cuối năm 2009, tổng
tài sản của Agribank đạt xấp xỉ 470.000 tỷ đồng, tăng 22% so với năm
2008; tổng nguồn vốn đạt 434.331 tỷ đồng, tổng dư nợ nền kinh tế đạt
354.112 tỷ đồng, trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn đạt 242.062 tỷ
đồng.

Năm 2009, Agribank vinh dự được
đón Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tới thăm và làm việc vào đúng dịp kỷ niệm
21 năm ngày thành lập (26/3/1988 - 26/3/2009); vinh dự được Đảng, Nhà
nước, Chính phủ, ngành ngân hàng, nhiều tổ chức uy tín trên thế giới
trao tặng các bằng khen cùng nhiều phần thưởng cao quý: TOP 10 giải SAO
VÀNG ĐẤT VIỆT, TOP 10 Thương hiệu Việt Nam uy tín nhất, danh hiệu “DOANH
NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG” do Bộ Công thương công nhận, TOP 10 Doanh
nghiệp Việt Nam theo xếp hạng của VNR500.

 

Agribank - Những cột mốc và chặng đường lịch sử

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: Thảo luận chung :: Góc học tập-
..
Free forum | © phpBB | Free forum support | Report an abuse | Have a free blog with Sosblogs